Khái niệm dịch vụ về y tế

Khái niệm và các loại dịch vụ về y tế

1. Khái niệm về dịch vụ y tế

Dịch vụ y tế chính là một loại hàng hóa dịch vụ công đặc thù, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân và cộng đồng bao gồm hai nhóm dịch vụ thuộc khu vực công mở rộng và nhóm dịch vụ y tế công cộng

Dịch vụ y tế là một dịch vụ khá đặc biệt. Về bản chất, dịch vụ y tế bao gồm các hoạt động thực hiện bởi nhân viên y tế (khám, chữa bệnh) để phục vụ người bệnh và gia đình. Thực tế người bệnh ít khi đánh giá được một cách chính xác chất lượng khám chữa bệnh mặc dù họ có thể cảm nhận qua tiếp xúc với nhân viên y tế, trang thiết bị, cơ sở vật chất của cơ sở y tế. Ví dụ một người bệnh được phẫu thuật để chữa bệnh không thể biết được “chất lượng” của cuộc mổ như thế nào, ngoại trừ cảm giác đau sau mổ và nhìn thấy được vết mổ.

Khái niệm dịch vụ về y tế
Khái niệm dịch vụ về y tế

2. CÁC LOẠI DỊCH VỤ Y TẾ

2.1. Khám ngoại trú

Khám ngoại trú được cung cấp tại phòng khám cho những trường hợp không cần thiết phải nhập viện hoặc nằm viện một ngày trong các cơ sở y tế, các bác sĩ phường và các bác sĩ chuyên khoa đảm bảo khám ngoại trú. Bệnh nhân trước tiên sẽ phải tìm đến bác sĩ tuyến một, tức là bác sĩ thực hành cho người lớn, bác sĩ nhi thực hành cho trẻ em và vị thành niên, bác sĩ nha khoa, bác sĩ phụ khoa mà trước tiên bệnh nhân cần phải đăng ký ở chỗ bác sĩ tuyến một.

Bác sĩ có thể từ chối đăng ký bệnh nhân: nếu nhận đăng ký bệnh nhân thêm nữa, bác sĩ sẽ có khối lượng công việc quá tải, làm cản trở việc chăm sóc tốt và chất lượng cho người bệnh này cũng như các bệnh nhân khác của mình,
nếu như khoảng cách quá xa với phòng khám không cho phép bác sĩ thăm khám cho bệnh nhân tại nơi cư trú trong trường hợp cần thiết,
nếu như bệnh nhân không phải là người tham gia bảo hiểm tại hãng bảo hiểm y tế có ký kết hợp đồng với bác sĩ, việc này không ứng dụng với người tham gia bảo hiểm từ các quốc gia khác trong cộng đồng Châu Âu, những nước thuộc khu vực Kinh tế châu Âu (EEA) và Thụy Sĩ hay những quốc gia mà Cộng hòa Séc có kí kết hợp đồng về an sinh xã hội, kể cả quyền lợi về chăm sóc y tế cụ thể.
Trong trường hợp bị từ chối, bệnh nhân có quyền yêu cầu bác sĩ chứng nhận bằng văn bản. Bác sĩ không được từ chối khám chữa bệnh trong trường hợp bệnh nhân cần điều trị gấp và không thể trì hoãn (tức là tai nạn hoặc là bệnh cấp tính đột xuất), sau đó sẽ chuyển bệnh nhân cho bác sĩ điều trị của họ. Bệnh nhân có thể đến khám ở bác sĩ chuyên khoa mà không cần giấy giới thiệu của bác sĩ tuyến một. Điều trị ngoại trú được cung cấp như là: a) khám ngoại trú cấp một, được hiểu như là khám phòng ngừa, chẩn đoán, điều trị  giám định và tư vấn; tiếp theo là bao gồm sự phối hợp và đảm bảo tính liên tục của dịch vụ y tế được cung cấp bởi các nhà cung cấp khác ; một phần của điều trị ngoại trú cấp một cũng là dịch vụ khám tại nhà. b) khám ngoại trú chuyên khoa, được cung cấp bởi các bác sĩ chuyên khoa từng chuyên ngành của dịch vụ y tế, c) khám điều trị cố định được cung cấp cho bệnh nhân mà tình trạng sức khỏe của họ đòi hỏi phải điều trị ngoại trú lặp đi lặp lại hàng ngày.

2.2. Điều trị nội trú

Nếu như bản chất căn bệnh đòi hỏi phải điều trị nội trú thì bác sĩ phường hoặc bác sĩ ngoại trú chuyên khoa sẽ giới thiệu bệnh nhân điều trị tại các cơ sở y tế của nhà cung cấp điều trị nội trú, hoặc là bác sĩ tự gửi bệnh nhân nhập viện. Bệnh nhân được điều trị nội trú trong các cơ sở y tế: điều trị cấp tính chuẩn, cấp tính mạnh, điều trị tiếp theo và dài hạn. Luật về dịch vụ y tế định nghĩa điều trị nội trú là điều trị y tế mà không thể cung cấp cho bệnh nhân tại nhà và đòi hỏi bệnh nhân phải nhập viện. Điều trị nội trú phải được cung cấp trong cơ sở y tế hoạt động liên tục.

Điều trị nội trú được cung cấp như là: a) điều trị nội trú cấp tính chuẩn dành cho: bệnh nhân bị bệnh đột ngột hoặc là bệnh mãn tính đột biến, đe dọa nghiêm trọng sức khỏe, nhưng không trực tiếp gây suy giảm các chức năng sống, hoặc là để thực hiện các ca phẫu thuật y tế mà không thể thực hiện trong điều kiện ngoại trú, hoặc là để bắt đầu điều trị phục hồi chức năng, b) điều trị nội trú cấp tính mạnh dành cho những bệnh nhân trong trường hợp bị suy giảm đột ngột hoặc bị nguy hiểm đe dọa nghiêm trọng các chức năng sống cơ bản hoặc trong trường hợp có thể tính đến các tình trạng đó, c) điều trị nội trú tiếp theo được cung cấp cho những bệnh nhân đã được chuẩn đoán bệnh và tình trạng sức khỏe của họ đã ổn định, những bệnh nhân cần đối phó với bệnh đột ngột hoặc tình trạng bệnh mãn tính đột ngột xấu đi, cho những bệnh nhân mà tình trạng sức khỏe của họ đòi hỏi phải điều trị tiếp hoặc điều trị phục hồi chức năng, những bệnh nhân phụ thuộc phần nào hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào hỗ trợ các chức năng sống cơ bản, d) điều trị nôi trú dài hạn dành cho những bệnh nhân mà tình trạng sức khỏe của họ không thể điều trị cho tốt hơn đáng kể, nhưng thiếu chăm sóc điều dưỡng có hệ thống thì tình trạng sức khỏe sẽ xấu đi; và dành cho những bênh nhân bị rối loạn các chức năng sống cơ bản.

2.3 Dịch vụ cấp cứu y tế và trực cấp cứu

Dịch vụ cấp cứu y tế thường được sử dụng khi bị bệnh nặng đột xuất hoặc bị tai nạn, khi mà bệnh nhân không thể tự đi đến bác sĩ và khi cần điều trị nhanh tại hiện trường và cả trường hợp chuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế điều trị nội trú trong khi điều trị khẩn cấp liên tục, để khỏi suy giảm tình trạng sức khỏe và đe dọa tính mạng bệnh nhân.

Những số điện thoại gọi khẩn cấp miễn phí: 155 – số gọi khẩn cấp trong nước để giải quyết các vấn đề sức khỏe, 112 – số gọi khẩn cấp thống nhất toàn châu Âu để gọi cấp cứu đến các sự kiện với một số lượng lớn người bị nạn và để kích hoạt hệ thống cứu hộ liên hoàn (cảnh sát cấp cứu y tế , cứu hỏa)

Thanh toán cấp cứu được thanh toán cho cả khi bị bệnh đột ngột ít nghiêm trọng (kể cả tai nạn hoặc bệnh về răng trong thời gian ngoài giờ khám hoặc trong thời gian bác sĩ điều trị vắng mặt, tùy theo điều kiện địa phương hoặc các bác sĩ thay phiên lẫn nhau trong phòng khám của họ, hoặc sẽ được điều trị trong các phòng khám riêng biệt của trực cấp cứu y tế hoặc trực cấp cứu nha khoa.

Các cơ sở y tế điều trị nội trú (bệnh viện) cũng đảm bảo các ca trực cấp cứu nêu trên.

Thông tin có thể tìm thấy trong các phòng ban y tế của ủy ban tỉnh hoặc tại phong điều hành của cứu hộ y tế.


2.4 Dịch vụ y tế lao động


Những loại dịch vụ này có tính chất phòng ngừa và đánh giá ảnh hưởng của công việc, môi trường làm việc và điều kiện làm việc tới sức khỏe kiểm tra sức khỏe định kỳ, phòng ngừa và đánh giá tình trạng sức khỏe. Mục đích là giám định khả năng sức khỏe đối với công việc, và tiếp theo sẽ cung cấp tư vấn về bảo vệ sức khỏe trong công việc và bảo vệ phòng tránh tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các bệnh liên quan tới công việc, đào tạo nhân viên về sơ cứu và thường xuyên giám sát công suất làm việc hoặc dịch vụ tại nơi làm việc. Chủ việc phải thanh toán chi phí những dịch vụ này.

2.4.1 Khám điều trị theo dõi định kỳ


Loại điều trị này dành cho những bệnh nhân bị bệnh lâu dài hoặc mãn tính hay là bị suy giảm tình trạng sức khỏe lâu dài, theo quá trình phát triển bệnh trạng có thể suy đoán những thay đổi tình hình sức khỏe, nếu kịp thời phát hiện có thể ảnh hưởng cơ bản đến phương thức chữa bệnh và quá trình phát triển bệnh.

2.4.2 Điều trị điều dưỡng – phục hồi chức năng

Điều dưỡng đôi khi cũng là một phần không thể thiếu của quá trình điều trị. Bác sĩ điều trị giới thiệu điều dưỡng và bác sĩ thanh tra chứng nhận. Bác sĩ điều trị nội trú hoặc bác sĩ thực hành đưa đề xuất điều dưỡng.

3. Đặc điểm thị trường dịch vụ y tế

 

– Có số lượng lớn người mua và người bán đủ lớn và trong số những người mua và người bán đó không có ai có thể khống chế giá cả và sản lượng trên thị trường.

Đối với thị trường dịch vụ y tế thì khó có thể đáp ứng được điều kiện này do sự tập trung các cơ sở y tế tại các thị trường địa lý khác nhau thì rất khác nhau. Do vậy, đây chính là tính không hoàn hảo của thị trường dịch vụ y tế.

– Không có rào cản khi gia nhập thị trường và rút lui khỏi thị trường: Người sản xuất có quyền tự do gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường trong khi các yếu tố của sản xuất đều di chuyển theo tín hiệu thị trường.

Đối với thị trường dịch vụ y tế, việc tự do gia nhập thị trường là điều hiếm thấy bởi vì như chúng ta đã biết, những người cung ứng dịch vụ y tế bao gồm bệnh viện, phòng khám, phòng mạch và các bác sĩ gia đình đều phải có giấy phép thành lập và giấy phép hành nghề và có trình độ chuyên môn về lĩnh vực này.

– Sản phẩm phải đồng nhất, không có sự khác biệt về chất lượng.

Ðối với thị trường dịch vụ y tế thì điều này càng khó đáp ứng bởi vì quá trình khám chữa bệnh lại rất phức tạp và năng động bởi chúng sử dụng nhiều phýõng pháp khác nhau. Ðối với cùng một loại bệnh ở hai bệnh nhân khác nhau nhýng bác sĩ lại dùng hai phương pháp điều trị khác nhau bởi nó còn tùy thuộc vào thể trạng của từng bệnh nhân để bác sĩ có thể kê đơn, bốc thuốc cho phù hợp với từng bệnh nhân.

– Tất cả người mua và ngýời bán đều có hiểu biết đầy đủ về các thông tin liên quan đến việc trao đổi hàng hóa dịch vụ trên thị trường.

Đối với thị trường dịch vụ y tế, bệnh nhân không thể tự đưa ra quyết định tiêu thụ sản phẩm, không có hiểu biết gì về dịch vụ mà họ tiêu thụ hoặc là biết rất ít về dịch vụ đó mà họ phụ thuộc hoàn toàn quyết định của người bán (bác sĩ).

Tóm lại, nếu xét dựa trên các điều kiện cơ bản của thị trường cạnh tranh hoàn hảo thị hầu hết các điều kiện của thị trường cạnh tranh hoàn hảo đều không đáp ứng được trong thị trường này.

4. Chất lượng chức năng của dịch vụ y tế

Chất lượng dịch vụ y tế vì thế được xem là gồm 2 cấu thành: (1) chất lượng kỹ thuật (technical quality) và (2) chất lượng chức năng (functional quality). Chất lượng kỹ thuật là sự chính xác trong kỹ thuật chẩn đoán và điều trị bệnh. Chất lượng chức năng bao gồm các đặc tính như: cơ sở vật chất bệnh viện, giao tiếp với nhân viên y tế, cách thức bệnh viện tổ chức các qui trình khám chữa bệnh mà người bệnh phải thực hiện, cách thức bệnh viện chăm sóc người bệnh…

Chỉ có nhân viên trong ngành y tế là những người được trang bị đủ kiến thức để có thể đánh giá chất lượng kỹ thuật của dịch vụ y tế. Người bệnh thường ít khi có khả năng nhận định và đánh giá chất lượng kỹ thuật. Trong đa số các trường hợp, người bệnh đánh giá dịch vụ y tế dựa vào chất lượng chức năng hơn là chất lượng kỹ thuật.

Các chương trình đào tạo nhân lực về chuyên môn và quản lý trong ngành y tế từ trước đến nay chủ yếu chú trọng đào tạo kiến thức và kỹ năng để đảm bảo chất lượng kỹ thuật mà ít quan tâm đến các kiến thức và kỹ năng để đảm bảo cung cấp chất lượng chức năng. Bên cạnh đó, tính cạnh tranh của các dịch vụ y tế trong thời gian qua không cao. Các yếu tố trên làm cho chất lượng dịch vụ y tế ở Việt nam mất cân đối nghiêm trọng giữa 2 phần cấu thành chính: kỹ thuật và chức năng.

Trong những năm qua, do chính sách mở cửa và cải cách ngành y tế, dịch vụ y tế ngày càng phát triển. Trong đó, những thay đổi lớn bao gồm:

  • Phân hóa trong thu nhập, khiến nhu cầu về dịch vụ y tế cũng phân hóa. Thu nhập bình quân tăng, khiến yêu cầu về chất lượng dịch vụ y tế, đặc biệt là chất lượng chức năng của người bệnh ngày càng tăng.
  • Bệnh viện công lập chuyển dần từ miễn phí đến thu một phần hoặc thu đủ phí dịch vụ y tế. Một số bệnh viện tiến tới tự chủ về tài chính và có khuynh hướng tăng thu để đảm bảo ngân sách hoạt động.
  • Cơ sở y tế tư nhân, bệnh viện tư ngày càng phát triển. Một số bệnh nhân có điều kiện đi khám và điều trị bệnh ở các cơ sở y tế nước ngoài. Người bệnh ngày càng có nhiều sự chọn lựa về dịch vụ y tế.
  • Bệnh viện công lập bắt đầu phải cạnh tranh với các loại hình dịch vụ y tế khác.

Trong khi nhu cầu của người bệnh và xã hội ngày càng phát triển, ngành y tế vẫn chưa theo kịp sự phát triển này của xã hội, đặc biệt là việc nâng cao chất lượng chức năng của dịch vụ y tế.

Thực tế cho thấy, các bệnh viện ngày càng quá tải khiến chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng đều giảm. Bệnh viện công lập chủ yếu đầu tư vào chất lượng kỹ thuật bằng cách đầu tư con người và thiết bị để phát triển kỹ thuật mới và gia tăng qui mô để đảm bảo phục vụ nhu cầu ngày càng tăng.

Do không được đào tạo cũng như chưa có nhận thức đủ về thành phần chất lượng chức năng của dịch vụ y tế, đa số các bệnh viện ở Việt nam, đặc biệt là bệnh viện công lập không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của người dân. Trong khi người bệnh ngày càng có nhiều sự lựa chọn và gần như chỉ có khả năng đánh giá chất lượng dịch vụ y tế thông qua cảm nhận về chất lượng chức năng.

Trong bối cảnh đó, mô hình phân phối dịch vụ y tế ở Việt nam đã có những biến động lớn:

  • Một phần lớn người bệnh có nhu cầu cao về dịch vụ y tế bắt đầu chuyển sang chọn lựa các cơ sở dịch vụ y tế tư nhân, nơi cung cấp dịch vụ y tế có chất lượng chức năng tốt hơn.
  • Nhiều người bệnh có điều kiện sẵn sàng ra nước ngoài để khám và điều trị. Đa số các trường hợp này chủ yếu hướng tới chất lượng dịch vụ y tế về chức năng, vì thực tế phần lớn yêu cầu về chất lượng kỹ thuật của người bệnh đều có thể đáp ứng tại các cơ sở trong nước. Điều này dẫn đến “chảy máu” ngoại tệ, mà theo một báo cáo không chính thức của Bộ Y tế, lên đến gần 1 tỉ đô-la mỗi năm. Các bệnh viện nước ngoài ngày càng đẩy mạnh thu hút người bệnh trong nước.
  • Nhằm thu hút người bệnh, một số cơ sở y tế tư nhân trong nước chủ trương đầu tư chủ yếu vào chất lượng chức năng trong khi chất lượng kỹ thuật không đảm bảo. Điều này ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh.

Trong tình hình này, nếu không có những bước can thiệp hiệu quả, tình trạng “chảy máu” ngoại tệ để chi trả cho các dịch vụ y tế ở nước ngoài sẽ ngày càng lớn. Trong tương lai, nếu các tập đoàn y tế nước ngoài bắt đầu đầu tư phát triển các dịch vụ y tế tại Việt nam, ngành y tế Việt nam sẽ gặp phải một thách thức đáng kể nếu các bệnh viện này dựa trên ưu thế về chất lượng chức năng để thu hút người bệnh và tiến đến thu hút đội ngũ nhân viên y tế cao cấp của Việt nam để củng cố chất lượng kỹ thuật và hoàn thiện chất lượng dịch vụ.

Để cải thiện tình hình trên, Bộ Y tế và các bệnh viện công lập đã có một số báo động về tình trạng yếu kém về chất lượng chức năng của dịch vụ y tế tại các cơ sở công lập. Tuy nhiên để cải thiện tình trạng này cần phải có sự đầu tư rất lớn về con người và cơ sở vật chất trong khi ngân sách y tế lại thiếu, thu nhập cán bộ y tế còn thấp. Các chương trình nhằm nâng cấp cơ sở vật chất của cơ sở y tế công lập và cải thiện kỹ năng giao tiếp của nhân viên y tế chưa mang lại những biến chuyển lớn.

Để tạo những biến chuyển lớn, nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ y tế ở các cơ sở y tế công lập nói riêng và ngành y tế Việt nói chung cần có nguồn đầu tư lớn, đặc biệt là về con người. Nên bắt đầu biên soạn và đưa các chương trình đào tạo kiến thức và kỹ năng liên quan đến chất lượng chức năng vào các trường y từ bây giờ để tạo sự chuyển biến về căn cơ sau này. Bên cạnh đó, trước mắt cần tạo điều kiện cho các bệnh viện tư nhân trong nước với đầu tư đồng bộ về con người và cơ sở vật chất ra đời phát triển để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Đồng thời, đây cũng sẽ là một đối trọng đáng kể để cạnh tranh với các tập đoàn y tế quốc tế ngay tại thị trường Việt nam trong tương lai.

Các bài có thể tham khảo thêm:

Khái niệm về NHTM

Vai trò của cạnh tranh

Nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Khái niệm và các loại dịch vụ về y tế
5 (100%) 1 vote

Để lại Trả lời

Các trường bắt buộc được đánh dấu*